Paella - Cơm hải sản Tây ban nha

Hiển thị các bài đăng có nhãn Món Bò. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Món Bò. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 5, 2011

Bò lá lốt



Chỉ sau vài cơn mưa đầu mùa, đám lá lốt vật vạ sau hè lại non xanh nõn nà như chưa hề héo hon vì nắng nóng. Lá lốt thường mọc dại quanh vườn, nảy chồi rất nhanh khi sống nơi đất ẩm, thế mà bây giờ ở chợ người ta bán đến 20.000đ/kg – đắt gấp đôi năm rồi. Có khi mình nghỉ hưu non về trồng lá lốt lợi hơn đấy nhỉ? Sống bên loài cây bền bỉ ấy biết đâu mình cũng sẽ mạnh mẽ hơn, khéo léo hơn khi đối diện với khó khăn?


Như một thông lệ, mỗi khi có bé Hấu đến chơi mình lại làm món bò lá lốt mà bé thích. Thằng bé đẹp, thông mình và dễ thương lạ, nghịch ngợm chẳng ai bằng nhưng rất lễ phép và thích nấu nướng (chắc lây tính giỏi giang của bà nội nó). Chỉ cần nhìn thấy bé hớn hở nói “Con cảm ơn bà” và nhanh nhẹn phụ giúp thì có nấu món gì cầu kỳ hơn cũng chả ngại.


Chưa nấu nướng xong tụi nhỏ đã xin phép rủ thêm anh chàng Su ròm. Tiếc quá, sáng nay đi chợ trễ chỉ mua được ít thịt ngon. Thôi vui là chính vậy, chị em có món ngon nhớ gọi nhau là tốt rồi.

Chưa ăn xong bữa tụi nhỏ lại bàn về món ăn trưa mai, nghe tới BÁNH ĐA CUA, bạn Su ròm thì thầm REMEMBER TO INVITE ME, PLEASE! Chà, ăn bánh đa cua đặc mùi mắm tôm mà dùng tiếng Tây thì sang nhỉ?


Bò lá lốt.JPG


BÒ LÁ LỐT

NGUYÊN LIỆU: (50 cuốn )
400g thịt bò mềm, xay không quá nhuyễn
50g mỡ khổ, luộc sơ, xắt hạt lựu thật nhỏ
600g lá lốt (nguyên cọng)
1 củ tỏi, bằm nhỏ
1,5 muỗng cà phê hạt nêm
1 muỗng cà phê dầu ăn
¼ muỗng cà phê ngũ vị hương
½ muỗng cà phê đường
½ muỗng cà phê tiêu
10 lá lốt nhỏ, xắt nhuyễn
20 cây xiên dài chừng 15cm

CÁCH LÀM:
-Lá lốt để nguyên cả cọng, cầm rửa từng lá, ngâm nước muối 15’ rồi rửa lại nước lạnh. Vẩy ráo, cột thành từng chùm nhỏ phơi trên dây (như phơi quần áo) để lá hoàn toàn ráo nước và dịu lá, khi gói sẽ không bị rách.
-Ướp bò + mỡ heo và toàn bộ gia vị chừng 20’ cho thấm
-Trải 1 lá lốt to lên thớt, bề mặt úp xuống. Trên lá lốt to xếp chồng lên 1 lá lốt nhỏ hoặc lá rách cũng được. Lớp lá thứ 2 này sẽ làm tăng hương vị  và giúp cuốn lá lốt chắc, khó rách.
Bò lá lốt 1.JPG 

-Nếu lá không có lá to thì lấy 2 lá vừa vừa xếp chồng mí lên nhau
Bò lá lốt 2.JPG 

-Gói thịt tương tự gói chả giò, vầy nè:
Múc 1 muỗng cà phê thịt bò vào lá lốt (cách cuống lá chừng 1,5cm). Xếp cuống lá xuống
Bò lá lốt 3.JPG 

Gấp mép 2 bên vào
Bò lá lốt 4.JPG 

Cuộn tròn
Bò lá lốt 5.JPG 

rồi xiên vào 2 que, mép lá nằm giữa 2 cuốn. 2 que xiên này sẽ giúp cho mép lá không bung ra và khi chiên/nướng trở thịt rất lẹ
Bò lá lốt.JPG 

-Bắc chảo nóng, cho 2 muỗng xúp dầu vào, dầu nóng cho bò lá lốt vào chiên trên lửa nóng vừa. Lá lốt vừa tái là bò chin.
-Nếu nướng thì phải quạt cho than cháy hết lửa mới bỏ các xiên bò cuốn lá lốt đã phết sơ chút dầu ăn lên nướng.
-Bò lá lốt có thể dung cuốn bánh tráng hoặc ăn kèm với bún, rau sống, đồ chua, đậu phọng rang chấm với mắm nêm hoặc nước mắm chua ngọt.

ĐỌC THÊM:

Cây lá lốt  (Ảnh: http://www.giaoducsuckhoe.soctrang.gov.vn)
 
Lá lốt chữa bệnh đau nhức
 
Lá lốt có tên khoa học là Piper Lolot, mọc hoang và được nhân dân ta trồng ở khắp mọi miền để làm gia vị. Lá, thân của lá lốt có tác dụng khu phong, tán hàn, tiêu thực cho nên được nhân dân ta sử dụng rất rộng rãi để chữa chứng đau nhức xương, khớp…
Lá của cây lá lốt: làm gia vị: Chả thịt bò lá lốt (lá lốt gói thịt bò rồi nướng hay rán), nấu lươn, hoặc thái nhỏ để nấu canh với thịt nạc có tác dụng tiêu thực "nhẹ mình", rất dễ chịu. Chữa đau nhức xương, phong thấp, ra mồ hôi tay chân: dùng lá lốt tươi, sao nóng, đắp lên vùng đau và băng lại hoặc đắp lá lốt lên vùng đau rồi lấy muối (khoảng 1- 2 kg) rang nóng già, cho vào túi vải, đặt lên. Mỗi ngày 1 lần đến 2 lần, liên tục từ 7 đến 10 ngày sẽ cho kết quả. Hoặc lấy cả cành, lá khoảng 40 – 50 gr (1 nẹm tay), sắc với 200 ml, còn 100 ml, chia làm 2-3 lần, uống trong  ngày. Nếu ra nhiều mồ hôi tay, chân: Lấy khoảng 100 gr (cả lá, thân, rễ) thái nhỏ cho khoảng 200 gr muối hột nấu 500 ml nước, đun sôi chừng 5-10 phút, để khi nước còn nóng già thì ngâm chân hay tay, mỗi lần ngâm khoảng 20-30 phút, làm hằng ngày sẽ giảm chứng ra mồ hôi, hết "mùi" và càng đỡ đau nhức xương.
Ngâm làm cồn xoa bóp: lấy thân và rễ cây chặt nhỏ, ngâm trong rượu mạnh (trên 400) dùng làm cần xoa bóp khi bị đau nhức hay chấn thương.
Lá lốt là một cây rất dễ trồng (lấy từng đoạn thân "bánh tẻ" vùi xuống đất ẩm) vừa có tác dụng làm gia vị lại vừa có tác dụng chữa bệnh, mọi người nên trồng mỗi nhà một khóm để dùng.
Theo Thanh niên

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011

Phở bò

Món đầu tiên mình muốn nấu khi khỏi ốm là phở.



Cũng như cháo, phở là món ăn nhẹ, nhiều nước, dễ ăn, dễ tiêu và bổ dưỡng nên hay được chọn khi người mỏi mệt, tay chân nặng nề, miệng mồm đỏng đảnh. Nhưng thời bão giá này, tô phở ở ngoài hàng như đậm đà thêm vị bột ngọt, ăn cứ chán chán là!
Thì nấu phở vậy, cần gì tới ngày nghỉ phải chờ lâu! Nói là làm (phải việc gì cũng nhanh nhẹn được vậy nhỉ?), sáng ra thấy người khỏe khỏe mình phóng ra chợ khuân thịt bò, xương bò về chuẩn bị cho nồi phở, chỉ khổ cho cậu em sắp tới giờ đi làm còn phải lôi cưa máy ra cưa mấy khúc… xương bò cho chị (chứ để cục xương ống to đùng thì ga nào chịu cho thấu?)

Trụng xương, nướng gừng và hành rồi hầm xương, hớt bọt... Đơn giản vậy thôi, nấu phở chẳng khó nếu có gia vị chuẩn nhưng khổ nỗi sáng nay chẳng tìm đâu ra gói gia vị ưng ý nên phở  tuy “ngon từ thịt ngọt từ xương” nhưng mùi thơm đặc trưng còn mỏng quá. Đúng là dục tốc bất đạt!


(Ảnh amthuchathanh.com)


PHỞ BÒ
Nguyên liệu:
2kg xương bò
1kg nạm, gàu, gân, sách, sụn tùy ý
500g phi lê thăn chuột
1,5kg bánh phở
½ chén rượu gừng (hoặc rượu đế trộn với ít gừng đập dập)
50g gừng
50g hành tím
40g đường phèn
1 gói gia vị nấu phở
1 củ hành tây
200g giá
Hành lá, ngò gai, ngò rí, rau quế, chanh, ớt
Tương đen
Muối, tiêu, hạt nêm

Cách làm:
-Thịt phi lê lau khô, xắt miếng to và mỏng theo chiều ngang
-Rửa xương và các loại thịt còn lại với rượu gừng rồi trụng qua nước sôi
-Bắc nồi nước khác, cho xương và các thứ thịt trên vào khi nước còn nguội, nước phải ngập mặt thịt và xương
-Gừng + hành tím nướng cháy vỏ, bóc vỏ, đập dập, cho vào nồi nước lèo
-Rang thơm gia vị nấu phở, đập dập rồi cột vào túi vải, cho vào nồi nước lèo
-Đun nồi nước lèo với lửa lớn (mở nắp) cho sôi, hớt bọt  rồi để lửa liu riu
-Khi thịt  vừa mềm vớt ra ngay, để nguội , xắt mỏng theo chiều ngang của sớ thịt (ăn đến đâu xắt đến đó kẻo thịt bị khô)
-Hành lá cắt khúc đầu trắng để riêng, phần lá xanh xắt nhỏ cùng ngò rí, ngò gai.
-Trước khi ăn, vớt bỏ xương và váng mỡ, lọc lại nước lèo. Cho đường phèn vào, đun sôi và nêm muối + hạt nêm vừa như nêm canh.
-Khi ăn  tráng tô cho nóng, xếp 100g bánh phở đã trụng + thịt nạm + thịt gàu  + thịt phi lê, rải hành tây, hành ngò xắt nhỏ, đầu hành. Chan nước lèo, rắc tiêu và dùng nóng kèm chanh, ớt, tương đen, giá trụng, rau ngò gai + rau quế. Nêm thêm nước mắm nếu nhạt.

Mẹo vặt:
-Chỉ nấu phở khi đã chọn mua được gia vị ưng ý
-Nên hầm xương trước 1 ngày để xương ra hết nước ngọt và dễ hớt bỏ bớt váng mỡ khi nước lèo nguội.
-Thịt nạm, gàu phải để thật nguội mới xắt sẽ vừa nhanh vừa đẹp không bị bể vụn
-Nếu dùng thêm sá sùng, nước lèo sẽ đậm đà hơn

Đọc thêm:
MÓN QUÀ CĂN BẢN                               
Vũ Bằng
Sao lại là quà căn bản?  Vâng, chính thế; người ta có thể nói rằng người Việt Nam có thể không ăn bánh bao, bánh bẻ, có thể không ăn mằn thắn hay mì, có thể không ăn xôi lúa, nhưng chắc chắn là ai cũng đã từng ăn phở.
Rẻ lắm. Theo giá trị của đồng bạc bây giờ năm đồng một bát phở, mà ba đồng cũng được một bát phở ngon như thường. Vì thế, từ cô bán hàng trong một cửa hiệu buôn cho đến một ông công chức, từ một bà mệnh phụ nhà có cửa võng sơn son thiếp vàng, đến một người thợ vắt mũi không đủ nuôi miệng, ai cũng ăn bát phở. Ngon miệng thì ăn hai, riêng tôi thì tôi đã từng thấy có người điểm tâm buổi sáng tới ba bát liền, mỗi bát tám đồng, vị chi hai mươi bốn, hai mươi nhăm đồng bạc.
Thật thế, phở đối với một hạng người, không còn là một món ăn nữa, mà là một thứ nghiện như nghiện thuốc lào, thuốc lá, trà tươi, thuốc phiện. Ngay từ ở đằng xa, mùi phở cũng đã có một sức huyền bí quyến rũ ta như mây khói chùa Hương đẩy bước chân ta, thúc bách ta phải trèo lên đỉnh núi để vào chùa trong rồi lại ra chùa ngoài. Ta tiến lại gần một cửa hàng bán phở, thật là cả một bài trí nên thơ. Qua lần cửa kính ta đã thấy gì? Một bó hành hoa xanh như lá mạ, dăm quả ớt đỏ buộc vào một cái dây, vài miếng thịt bò tươi và mềm, chín có, tái có, sụn có, mỡ gầu có, vè cũng có... Người bán hàng đứng thái bánh, thái thịt luôn tay, thỉnh thoảng lại mở nắp một cái thùng sắt ra để lấy nước dùng chan vào bát. Một làn khói tỏa ra khắp gian hàng, bao phủ những người ngồi ăn ở chung quanh trong một làn sương mỏng, mơ hồ như một bức tranh Tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ ở trong rừng mùa thu.
Trông mà thèm quá! Nhất là về mùa rét, có gió bấc thổi hiu hiu, mà thấy người ta ăn phở như thế, thì chính mình đứng ở ngoài cũng thấy ấm áp ngon lành. Có ai lại đừng vào ăn cho được... Ấy vậy mà người sành ăn phở, người ăn phở kỹ càng không thể dễ tính, nhất tề bước vào một cửa hiệu phở thứ nhất nào để mà ăn liều ăn lĩnh. Bởi vì những người sành ăn đó, thường không tin gì cho lắm ở những hàng phở mở cửa hàng. Người ta bảo rằng phần nhiều những hàng phở mở hiệu như thế, nước dùng không được ngọt, hoặc có ngọt là cái ngọt của mì chính, chứ không phải là cái ngọt của xương bò, ấy là chưa nói rằng lại còn cửa hiệu phở quá vụng về muốn có nước dùng ngọt lại cho đường vào nữa. Ăn phải một bát phở như thế, không những tiếc tiền, mà lại còn thấy phí phạm cả cái công ăn, đến sinh ra lợm giọng, bực mình là khác.
Vì thế, người ăn phở muốn cho thật đúng cung cách, phải thăm dò, phải điều tra, phải thí nghiệm kỹ càng rồi mới ăn mà một khi đã chịu giọng rồi, ta có thể tin chắc rằng người đó sẽ là một người khách trung thành, cũng như một người đàn ông nghệ sĩ trung thành với hơi hướng của một người yêu, cũng như một người chồng mê vợ vì người vợ đã có tài làm một hai món khéo, ăn vào hợp giọng.
Chính vì lẽ đó, chúng ta đã từng thấy có những người vất vả vì ăn phở. Trước kia, còn thái bình, ta đã từng thấy có buổi sáng, hàng trăm người chen chúc khổ sở vào cái ngõ con bề ngang không quá một thước ở phố Hàng Khay, bên cạnh nhà Bát Si Nha hay xuống tận đằng sau chợ Hôm, trong một cái quán lá tồi tàn để thưởng thức cho kỳ được một hay hai bát phở mới yên tâm.
Thời đó, nổi tiếng có anh phở Sứt sáng lập ra món phở giò (lấy thịt bò quận lại như cái dăm bông rồi thái mỏng từng khoanh nhỏ điểm vào với thịt). Phở Nhà thương Phủ Doãn ăn được nhưng nước hơi nhạt; phở Đông Mỹ ở phố Mới ăn êm, nhưng tẩy gừng hơi quá tay; phở Cống Vọng, kéo xe, ngon, nhưng nước dùng hơi hôi; phở Mũ Đỏ ở đằng sau miếu chợ Hôm vô thưởng vô phạt, ăn khá, nhưng chưa có gì quyến rũ.
Còn một anh phở nữa là anh phở Tàu Bay lúc đó cũng nổi tiếng lắm; sáng sáng, người ta đứng đầy cả ra ở ngã ba đầu Hàm Long, xế cửa Sở Hưu bổng để mà tranh nhau ăn, như thể lúc mới hồi cư, người ta tranh nhau đứng lĩnh “bông” sữa, bông vải vậy. Thịt mềm, nước cũng đã ngọt, nhưng thật ra thì chưa có thể gọi là trác tuyệt.
Phải đợi đến lúc hồi cư về, ta mới thấy, phong trào phở tiến nhanh và tiến mạnh như thế nào. Họa hoằn về phía chợ Đuổi mới thấy một hai hàng phở xe. Còn thì là phở gánh và phở hiệu. Một gian nhà đổ căng một cái bạt, bắc vài cái ghế; một cổng đình chắn một tấm phên tre; một cái ngõ, che mấy tấm tôn và kê một hai tấm ghế dài: thế là đã thành ra một cửa hàng rồi, ngồi ăn được, mà rất có thể lại ngon lành là khác.
Bởi vì ta phải biết rằng, người đi ăn phở - nói cho thật đúng nghĩa chữ ăn phở - không kỳ quản lắm đến sự bài trí của chỗ ăn, cũng như người ăn thuốc phiện, nghiện tiệm, không cứ là phải nằm hút ở một chỗ sang trọng có dọc đẹp, đèn pha lê và tiêm móc làm bằng bạc.
Nếu ta đã từng thấy có những người giàu có, nghiện thuốc phiện, chui vào những cầu gác bẩn thỉu, hôi hám để ăn thuốc mới thấy “đã thèm”. Thì ta lại cũng thấy biết bao nhiêu người sang trọng lần mò tới chỗ rất tồi tàn để ăn cho được một hai bát phở. Đó là do người ăn phở sành, hầu hết, chỉ chủ tâm đến cái điểm chính là phở mà thôi, chứ không quan tâm đến ngoại cảnh làm gì. Điều cần thiết là bánh phải mỏng và dẻo, thịt mềm, và nhất là nước dùng phải ngọt, ngọt kiểu chân thật, nghĩa là ngọt vì nhiều xương, tẩy vừa vặn không nồng, mà lại tra vừa mắm muối, không mặn quá mà không nhạt quá.
Đạt được mấy điểm đó tức là ăn phở được đấy.
Vào khoảng 1948-1949, phở Phú Xuân ở phố Rixô ăn được; đồng thời có phở Đông Mỹ, phở Tứ. Phở Tứ, phở Tàu Bay (bây giờ đã dọn thành cửa hiệu) và một ít hàng nữa mà ta không kể hết. Nhưng phở nào hình như cũng chỉ có một thời. Vì thế, nhiều hiệu và nhiều gánh phở có tiếng bây giờ nằm ngủ ở trên danh vọng. Người ta nghiệm thấy điều này: phần nhiều hàng phở lúc còn gánh thì ngon, mà dọn thành cửa hàng rồi thì kém.
Có phải đó là vì chểnh mảng trong sự cố gắng, hay là vì thành kiến của người ăn?
Duy ta có thể chắc được điểm này là một hàng phở đương làm ngon mà sút kém đi thì chỉ trong một tuần lễ, nửa tháng, cả Hà Nội đều biết rõ; trái lại, mới có một hàng phở nào làm ăn được thì cũng chỉ dăm bữa, mươi ngày là cả Hà Nội cùng đổ xô ngay đến để mà “nếm thử”, không cần phải quảng cáo lên nhật báo lấy một dòng! Âu đó cũng là một điểm đặc biệt trong thương trường vậy.  Nhiều người cho rằng sở dĩ thế ấy là vì món phở đứng cao hơn mọi sự lừa bịp của thời này: phở ngon là ngon, chứ không thể lừa dối người ta được.
Mà lừa dối làm sao? Một người lầm, nhưng không thể một nghìn người lầm được. Người ta ăn phở có phải là tiêu hóa rồi mà thôi đâu? Không. Cũng như đọc một áng văn hay, gấp sách lại mà còn dư âm phảng phất, còn suy nghĩ, còn trầm mặc, người ta ăn phở xong cũng đắn đo ngẫm nghĩ, rồi có khi đem thảo luận với anh em, nhất là các công chức và các tay thương gia rỗi thì giờ thì lại luận bàn kỹ lắm.
Thì ra phở không những là một món ăn, một sự thích thú cho khứu giác, mà còn là cả một vấn đề; vấn đề ăn phở, vấn đề làm phở.
Muốn thấu triệt hai phương diện của vấn đề, chúng ta cần phải bỏ mấy tiếng đồng hồ lên trước cửa trường Hàng Than để quan sát một hàng phở nổi danh nhất bấy giờ: phở Tráng - mà có người yêu mến quá mức đã gọi (chẳng biết đùa hay thực?) là “vua phở 1952" Tráng là tên ông “vua phở” này. Nhưng người ta không gọi anh bằng tên, cũng như người ta ít khi gọi những hàng phở ngon bằng tên của người bán, mà gọi bằng tên phố người hàng phở đứng bán (như phở Tráng thì gọi là phở Hàng Than, phở Sứt thì gọi là phở Hàng Khay), hoặc gọi bằng sướt hiệu (như phở Lùn, phở Cụt, phở Mũ Đỏ) hoặc gọi bằng đặc điểm nào đó của cái cửa hàng (phở xe đầu Hàng Cá), hoặc gọi bằng tên tự (như phở Đông Mỹ, phở Tân Tân, Phú Xuân) và có khi lại gọi bằng một phù hiệu (như phở Tàu Bay, Tàu Bò)...
Vậy thì ông vua ấy tên là Tráng, nhưng người ta vẫn gọi là phở Hàng Than.
Hình thù, vóc dáng của anh ta trông thật nản. Người gầy, môi hơi thưỡi, mắt thì lờ đờ như người chết rồi. Bất cứ lúc nào, nhìn thấy anh, ông cũng cảm giác đó là một người vừa mới thăng đồng, đương sống trong một cái thế giới u minh; thêm vào đó, lại bịt ở trên đầu một cái mùi soa trắng, trông mới lại càng... “thiểu số”. Người đâu mà lại “lỳ xì” đến thế là cùng! Hàng năm bảy chục người, hàng tám chín chục người đứng vòng lấy gánh hàng của anh ta, chật cả một cái hè đường để mua ăn, để “đòi ăn” - phải, họ đòi ăn thật - mà anh ta cứ làm như thể không trông thấy gì, không nghe thấy gì. Anh ta cứ thản nhiên, thái thịt, dốc nước mắm, rưới nước dùng - ai đợi lâu, mặc; ai phát bẳn lên; mặc; mà ai chửi, anh ta cũng mặc. Đi ôtô đến ăn cũng thế, mặc áo vải đến ăn cũng thế; các bà các cô đẹp đáo để, đến ăn cũng thế. Anh ta không đặc biệt riêng với ai - kể cũng dân chủ đấy! - nhưng có nhiều bà tức vì anh ta không nịnh đầm.
Ghét quá. Thế thì thuê một cái nhà rộng, mượn thêm người làm có phải lợi không? Hay là điều đình với xưởng củi người ta để cho một gian, bày mấy cái bàn, cái ghế, có người trông nom, tính tiền cẩn thận có phải không mất mát không? Mặc cho ông cứ nói, anh phở Tráng không trả lời - nhất là không bao giờ cười. Trông mà lộn ruột, muốn tát cho một cái. Chết một nỗi ghét người thì thế, nhưng đến cái phở của anh ta muốn ghét, không tài nào ghét được. Có ai chen chúc vất vả, hò hét đứt hơi được một bát phở của anh, mà lại chưa ăn ngay, còn dừng lại một phút để ngắm nghía, phân tách bát phở đó ra thế nào không?
Thật là kỳ lạ! Bánh phở không trắng và dẻo hơn, thịt thì cũng chẳng nhiều, nhưng mà làm sao ngon lạ, ngon lùng đến thế? Chưa ăn đã biết là ngon rồi. Cứ nhìn bát phở không thôi, cũng thú. Một nhúm bánh phở; một ít hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau thơm xanh biêng biếc; mấy nhát gừng màu vàng thái mướt như tơ; mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu hoa hiên vừa đỏ sẫm như hoa lựu... ba bốn thứ màu sắc đó cho ta cái cảm giác được ngắm một bức họa lập thể của một họa sĩ trong phái văn nghệ tiền tiến dùng màu sắc hơi lố lỉnh, hơi bạo quá, nhưng mà đẹp mắt.
Trên tất cả mấy thứ đó, người bán hàng bây giờ mới thái thịt bò từng miếng bày lên. Đến đây thì Tráng vẫn không nói năng gì, nhưng tỏ ra biết chiều ý khách hàng một cách đáng yêu. Ông muốn xơi chỗ thịt nào cũng có: vè, sụn nạm, mỡ gầu, mỡ lật, vừa mỡ vừa nạc, vừa nạm vừa sụn, thứ gì anh ta cũng chọn cho kỳ được vừa ý ông - miễn là ông đến xơi phở đừng muộn quá.
Ăn phở chín thì như thế là xong, chỉ còn phải lấy nước dùng và rắc một chút hạt tiêu, hay vắt mấy giọt chanh (nếu không là tí dấm).
Nếu ông lại thích vừa tái vừa chín thì trước khi rưới nước dùng, anh Tráng vốc một ít thịt tái đã thái sẵn để ở trong một cái bát ôtô, bày lên trên cùng rồi mới rưới nước dùng sau.
Thế là “bài thơ phở” viết xong rồi đấy, mời ông cầm đũa. Húp một tí nước thôi, đừng nhiều nhé! Ông đã thấy tỉnh người rồi phải không? Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng ăn phở có như thế mới ngon. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cay cái cay của gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt; thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mềm... rồi thì hòa hợp tất cả những vị đó lại, nước dùng ngọt cứ lừ đi, ngọt một cách hiền lành, êm dịu, ngọt một cách thành thực, thiên nhiên, không có chất gì là hóa học... không, ông phải thú nhận với tôi đi: “Có phải ăn một bát phở như thế thì khoan khoái quá, phải không?”
Quả vậy, ăn một bát phở như thế, phải nói rằng có thể “lâm li” hơn là nghe thấy một câu nói hữu tình của người yêu, ăn một bát phở như thế, thú có thể ví như sau một thời gian xa cách, được ngã vào trong vòng tay một người vợ đẹp mà lại đa tình vậy!
Y hẳn cũng có người cảm giác như tôi, cho nên biết bao nhiêu bận đứng chờ làm phở, tôi đã thấy những người đàn bà, đàn ông, người già, trẻ con, bưng lấy bát phở mà đôi mắt sáng ngời lên. Người ta chờ lâu thì bực thật đấy, nhưng cũng vẫn cứ chờ cho được, tuồng như đã đến mà không được ăn thì chính mình lại phải tội với mình, vì đã đánh lừa thần khẩu - hay nói một cách khác, đến đấy mà không cố ăn cho kỳ được Vậy thì ông vua ấy tên là Tráng, nhưng người ta vẫn gọi là phở Hàng Than.

Thứ Hai, 21 tháng 3, 2011

Ragu bò


Sáng sớm là thời gian bận bịu nhất trong ngày, chưa kịp tỉnh ngủ đã ba chân bốn cẳng lo chuẩn bị bữa ăn sáng rồi đi chợ và sơ chế thực phẩm. Thế nên hôm nào ăn sáng với những món đã được chuẩn bị từ tối trước như ragu, bò kho… thì  nhàn hẳn. Sáng nay nhà mình dùng Ragu.

Món ragu không phức tạp như mọi người nghĩ, ở chỗ mình cái phiền nhất của món này là phải đi 2km mới mua được bánh mì ngon.


RAGU Q&T (4 phần)
300g thịt bò nạm/gân
200g khoai tây bi, gọt vỏ
200g cà rốt, gọt vỏ, tỉa hoa dầy 1cm
1 củ hành tây nhỏ, xắt múi cau
2 trái cà chua, lột vỏ, bỏ hột, xay nhuyễn
½ muỗng cà phê tiêu
1,5 muỗng cà phê đường
1 muỗng súp rượu trắng
1 khúc gừng nhỏ
2 củ hành + 4 tép tỏi: lột vỏ, bằm nhỏ
1 muỗng cà phê hạt nêm
½ muỗng cà phê muối
1 muỗng cà phê bột ragu
2 muỗng súp dầu ăn
1 lát bơ mỏng
1 muỗng súp bột bắp
1 lá thơm
3 nhánh ngò rí, xắt nhỏ
4 ổ bánh mì nhỏ
Muối tiêu chanh

CÁCH LÀM:
-Bắc nồi nước sôi, cho rượu trắng và gừng đập dập vào, trụng sơ thịt bò.
-Thịt bò để ráo rồi xắt miếng vuông 3cm, ướp với ½ hành tỏi bằm , ¼ muỗng cà phê tiêu, hạt nêm, muối, 1 muỗng cà phê bột ragu, đường chừng nửa tiếng cho thấm gia vị.
-Bắc chảo dầu nóng, phi thơm chỗ hành tỏi còn lại, cho 1 muỗng cà phê bột ragu vào xào sơ rồi đổ thịt bò vào xào săn, cho tiếp cà chua xay, cà rốt, khoai tây vào. Khi nước cà chua vừa cạn thì cho lá thơm và nước vào ngập mặt thịt chừng 2cm.
-Đun nhỏ lửa, hớt bọt cho thịt mềm. Nếu chăm chỉ thì vớt khoai tây + cà rốt ra, khi gần ăn mới cho vào trở lại để không bị quá mềm.
-Thịt vừa mềm, cho hành tây vào rồi pha bột năng với 2 muỗng súp nước cho vào từ từ để nước thịt hơi sệt. Nêm nếm lại, vớt bỏ lá thơm, cho bơ và ¼ muỗng cà phê tiêu còn lại vào.
-Múc ra tô trẹt hoặc đĩa sâu lòng, rắc ngò. Dùng nóng với bánh mì  và muối tiêu chanh

MẸO VẶT:
-Khía 1 hình chữ thập nhỏ vào đít cà chua, trụng nước sôi 3’ vỏ cà sẽ bóc ra dễ dàng.
-Đừng bỏ qua khâu trụng thịt. Bước này làm cho thịt thịt hết hôi và dễ xắt miếng.
-Trong món này, bột ragu là gia vị quan trọng nhất, nên chọn ragu hiệu Việt Ấn hoặc Bà Tám để có chất lượng bảo đảm